10 thực nghiệm khoa học lớn về năng lượng vũ trụ (P1)

Đây là 10 thực nghiệm khoa học tiêu biểu thế kỷ XX bước đầu khám phá sự kỳ diệu của trường năng lượng sinh học xung quanh chúng ta, đối tượng mà thiết bị Orgonite luôn hoạt động và có tác động trực tiếp đến.

Ngày đăng: 27-08-2015

2,520 lượt xem

Thông qua tương tác giữa con người với Mẹ trái đất và môi trường xung quanh, các thực nghiệm cảm xạ rèn luyện nâng cao trực giác con người trong việc khám phá năng lượng vũ trụ cũng như tiềm năng đặc biệt của các sinh thể. Trong đó, trực giác (intuition) là khả năng hiểu được các điều ngay tức khắc, không cần có ý thức suy lý hay nghiên cứu. Nhờ vậy, chúng ta làm rõ hơn tính khoa học của trường năng lượng và các luận chứng của vật lý lượng tử và sinh học tế bào. 

Đây là 10 thực nghiệm khoa học tiêu biểu trong thế kỷ XX của các nhà khoa học lớn để bước đầu khám phá phần nào trường năng lượng sinh học xung quanh chúng ta. Mà trong đó sản phẩm Orgonite luôn hoạt động và có tác động trực tiếp đến trường năng lượng vô hình này. 

 

1. "Nghịch lý EPR" - Thực nghiệm Einstein - Podonski - Rosen

- Năm 1935, 3 nhà vật lý  A. Einstein, B. Podonski, N. Rosen (gọi tắt là EPR)  đưa ra 1 thí nghiệm tưởng tượng nổi tiếng mang tên "Nghịch lý EPR". Gọi là nghịch lý EPR do không thể giải thích tại sao hướng bay của photon A không xác định trước khi nó bị thu bởi máy dò, làm thế nào mà photon B biết trước được hướng bay của A để định hướng quỹ đạo của mình theo hướng ngược lại khi máy dò thu lại ở cùng thời điểm với A, thậm chí khi 2 photon ở cách xa nhau hàng tỷ năm ánh sáng? 

- Năm 1964, nhà vật lý J.S. Bell đã cho công bố một bằng chứng toán học gọi là định lý Bell. Theo định lý này, các hạt hạ nguyên tử liên kết với nhau một cách phi thời gian và phi không gian, thể hiện ở chỗ bất kỳ điều gì xảy ra cho một hạt cũng tác động đến các hạt khác ngay lập tức.

- Đến mãi 1980 làm thực nghiệm, 2 photon A và B được giữ cách nhau 12m, người ta thấy B luôn biết ngay lập tức những gì A đang làm và có những phản ứng tương ứng ngược lại. Trong khoảng 10-10 giây, ánh sáng chỉ mới di chuyển được 3cm trong khi khoảng cách giữa A, B là 12m.

- Giữa thế kỷ XX, thực nghiệm xác định ánh sáng có tính chất sóng và hạt. Bình thường ánh sáng thể hiện thuộc tính sóng nhưng khi quan sát / đo đạc lại là thuộc tính hạt.

 Nghịch lý sẽ được sáng tỏ nếu chấp nhận ý tưởng rằng, hai photon A và B đều là bộ phận của cùng một chỉnh thể, chúng liên hệ thường xuyên với nhau thông qua một tương tác bí ẩn phi thời gian và phi không gian. Bởi vậy, mọi sự kiện có liên quan đến photon này đều được photon kia nhận biết ngay tức thời, dường như chúng không cần trao đổi thông tin với nhau. Như vậy, vũ trụ là một thể thống nhất. Và ảnh hưởng đến trường năng lượng quanh cơ thể sống, vật lý, sinh học tế bào, thần kinh học.

 

2. Thực nghiệm con lắc Foucauld và tính thống nhất của toàn vũ trụ

Nếu như nghịch lý EPR là bằng chứng về  tính toàn bộ của vũ trụ ở thang bậc vi mô thì con lắc Foucault đã chứng tỏ điều ấy nhưng ở thang bậc vĩ mô. Kết quả kỳ lạ của một thí nghiệm do nhà vật lý Leon Foucault (người Pháp) thực hiện vào năm 1851 cho thấy quả đất quay và tính thống nhất của vũ trụ.
 
- Foucault đã cho treo một con lắc (sợi dây dài buộc một vật nặng) vào mái vòm của ngôi đền Pantheon ở Paris. Khi thả cho con lắc chuyển động thì sợi dây quét qua lại trong không khí theo một mặt phẳng dường như hoàn toàn cố định so với tất cả các thiên thể. Như vậy, hoạt động của con lắc không chỉ dựa vào thái dương hệ, còn dựa vào dải thiên hà xa nhất hay toàn thể vũ trụ. Hầu như tất cả vật chất biểu kiến được đều ảnh hưởng bởi toàn thể vũ trụ.
 
- Đến năm 1926, Ernst Mach - nhà khoa học người Áo, hoàn chỉnh "Trọng lượng của 1 vật thể trên Trái Đất chịu ảnh hưởng của toàn thể vũ trụ"
 
Vậy thì cái gì giữ vai trò liên kết tất cả các cơ cấu vật chất trong vũ trụ thành một chỉnh thể?

 

- Năm 1971, nhà khoa học gốc Hungary, Dennis Gabor nhận giải Nobel về xây dựng ảnh Hologram đầu tiên. Ảnh toàn đồ là hình ảnh 3 chiều ngược được hình thành từ tia sáng laser. Nếu ta cắt nhỏ tấm phim thành những đơn vị rất nhỏ, hình ảnh toàn phần 3 chiều ở mỗi phần nhỏ nhất của tấm phim vẫn hiện lên đầy đủ dù kích thước nhỏ đi. 

 

3. Thực nghiệm Penzias - Wilson phát hiện bức xạ nền của nền vũ trụ

Giải Nobel Vật lý năm 1978 trao cho 2 nhà thiên văn học vô tuyến người Mỹ là Arno A.Penzias và Robert W.Wilson. Nó mang ý nghĩa căn bản giúp chúng ta thu nhận những thông tin vũ trụ phát sinh từ thời kỳ hình thành rất xa xưa.

Bức xạ tràn ngập khắp vũ trụ gọi là bức xạ nền hình thành vào thuở Big Bang, sóng cực ngắn khoảng 4080 triệu Hz. Từ phát hiện này mở ra sự tiến hóa toàn bộ sinh thể vũ trụ cũng như tìm ra nguồn gốc vũ trụ cách đây 14 tỷ năm, xác định tuổi các vì sao ...

Sau vụ bigbang 380.000 năm thì vũ trụ vẫn còn mờ đục, khi đã đủ lạnh khoảng 10.000K cho phép tạo thành các nguyên tử, vũ trụ bắt đầu trở nên trong suốt. Đây là thời điểm bức xạ nền sinh ra và ngập tràn vũ trụ. Ngày nay, người ta quan sát được dưới dạng sóng ngắn.

 

4. Hiệu ứng cộng hưởng điện từ và hiệu ứng ngưng tụ Bose - Einstein

Các xung động thần kinh có thể phát sóng điện từ xung quanh não. Đặc biệt, các tín hiệu điện từ sinh học có tính chất cộng hưởng trong điều kiện cường độ cực nhỏ.

Não bộ của con người lúc sống luôn luôn phát ra những luồng điện rất nhỏ có tần số rõ rệt và có thể đo được chính xác với máy điện não đồ (EEG, Electroencephalography). Khoa học hiện đại phân loại năm tần số chính của những dao động trong não bộ sinh ra những luồng điện này và có tên là: sóng delta, theta, alpha, beta, và gamma.

Nhờ một số hiện tượng cộng hưởng (như cộng hưởng Schumann của vỏ trái đất), các tín hiệu sinh học đó tách khỏi nhiễu lan truyền trái đất, mặt đất, tương tự như sóng phát thanh. Về nguyên lý, 1 sinh hệ khác có thể bắt được sóng này ở khoảng cách xa tùy ý, có thể xem như sóng này không suy giảm theo khoảng cách.

Để đọc được những tín hiệu nhỏ yếu đó, cơ thể có thể dùng hiệu ứng lượng tử đặc biệt là ngưng tụ Bose - Einstein. Đó là việc thống nhất hóa hành vi của các phần tử trong 1 hệ, qua đó cho phép cơ thể nhạy cảm nhận ra được những tác động nhỏ nhất của môi trường dù cách xa nửa vòng trái đất. Ví như việc tìm kiếm 1 người áo đỏ trong 1 triệu người áo trắng vậy.

Hơn nữa khi đứng dang tay, cơ thể người trở thành 1 lưỡng cực điện phát tín hiệu 30 Mhz (10m), công suất 1W. Điều này giải thích cho việc thần giao cách cảm hoặc những nhà ngoại cảm vậy.

 

5. Thực nghiệm Kirlian - chụp ảnh hào quang quanh cơ thể sống

- Năm 1939, nhà vật lý Nga, Semion Kirlian đã tìm ra phương pháp chụp ảnh hào quang quanh cơ thể sống. Điều này phần nào mô tả phần năng lượng sinh học cơ thể sống dưới dạng hào quang động.

- Năm 1972, tại NewYork - Mỹ, các nhà khoa học tổ chức hội thảo về vấn đề này, gọi tên là hiệu ứng Kirlian. Có thể nói đây là đột phá khoa học trong về sự sống nói chung và con người nói riêng.

- Từ những năm 90 của thế kỷ trước với tiến bộ như vũ bão của điện tử, các camera ghi lại hào quang hiệu ứng Kirlian đã phổ cập. Từ đó, việc phân tích tâm lý, chuẩn đoán bệnh tật qua hào quang dần dần áp dụng nhiều nước.

Đối với cơ thể sống năng lượng gồm 2 phần: cơ thể sống và thông tin. Phần năng lượng đặc gọi là cơ thể, phần còn lại mang thông tin hình thành bao quanh cơ thể thành 1 trường năng lượng đặc biệt. 

    

Quả thật, năng lượng và vật chất luôn gắn liền chặt chẽ như phương trình nổi tiếng của Einstein: E=mc2

 

Xem thêm:

10 thực nghiệm khoa học lớn về năng lượng vũ trụ (P2)

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha
X

Theo OrgoniteHoangKim.com

Chat live trên fanpage